Skip to main content

Chương 13: Vẻ đẹp của vợ iu là khách quan, muốn dụ bắt đi 🙂

dathaiPiter

Ngày hôm sau trời sáng, mây quang mưa tạnh. +

Đây là lần đầu tiên Ôn Trác thượng triều sau khi trọng sinh. +

Thuận Nguyên Đế bước đi run lẩy bẩy, luôn do Lưu Thuyên công công dìu đỡ. +

Hội cờ Xuân Đài sắp đến gần, hôm nay trên triều vốn không có chuyện lớn, ông ta chỉ cần xem con cháu tám mạch cắn xé nhau, đấu võ mồm, vỗ ngực khoe khoang bản lĩnh, thế nhưng hai đứa con trai lại không để ông ta được yên. +

Công Bộ Thượng Tri Tần bất ngờ đứng ra, “bịch” một tiếng quỳ xuống đất, thế như muốn nện lún hai cái hố trên đại điện. +

Thường thì can gián đều mang dáng vẻ này, Ôn Trác có đôi khi cũng thấy xót xa cho đầu gối của bọn họ. +

Là nhân vật cốt lõi của phe Hiền vương, hành động cất bước của người này đã khiến đám người của thái tử căng thẳng. +

Chỉ thấy Thượng Tri Tần lấy từ trong ngực ra một bức thư mật, dùng hai tay dâng lên, sắc mặt ngưng trọng: “Thần cho rằng, vụ án Tào Phương Chính vẫn chưa xong.” +

Thái tử vội xoay người, trừng mắt tức giận: “Thượng Tri Tần, ngươi có ý gì! Lấy mạng đối phương còn chưa đủ, chẳng lẽ ngươi muốn tru di cửu tộc Tào gia sao!” +

Cửu tộc Tào gia có thể bao gồm cả thái tử, thậm chí bao gồm cả đương kim thánh thượng, Thẩm Trinh chính là muốn chụp mũ lên đầu Thượng Tri Tần. +

Hiền vương sao có thể để người của mình đội chiếc mũ này, đoạn bước ra, ỷ vào dáng vóc cao lớn, khá là khinh miệt liếc Thẩm Trinh một cái, sau đó lại hướng về phía Thuận Nguyên Đế lộ ra dáng vẻ lo nước thương dân quen thuộc: “Thượng đại nhân vẫn chưa nói chữ nào, không biết thái tử đang gấp cái gì. Phụ hoàng, nhi thần cho rằng chuyện này nghiêm trọng, vẫn nên nghe thử cho thỏa đáng. Những năm qua Tào Phương Chính hoành hành ngang ngược, e rằng thái tử cũng bị che mắt không ít.” +

Thuận Nguyên Đế xoa xoa cổ họng, nghiêng đầu nhổ một ngụm vào ống nhổ, lúc này mới bảo Thượng Tri Tần: “Cầm thứ gì đó, khanh nói xem.” +

“Rõ ạ.” Thượng Tri Tần giao thư mật trong tay cho Lưu Thuyên đang đi tới nhận lấy, vén vạt áo quỳ xuống, “Hội cờ Xuân Đài sắp diễn ra, quan viên các châu phủ gấp rút lên kinh thành cùng dự hội, trong đó có một quan thuỷ lợi đến từ Kiềm Châu. Đối phương nghe nói Tào Phương Chính phạm tội vào ngục, thế là trộm tố giác với thần.” +

“Sáu năm trước, bến đò Lương Hà ở Kiềm Châu xảy ra lũ lụt, nhấn chìm vô số ruộng tốt nhà dân, trong lúc nhất thời lưu dân nổi lên bốn phía, oán than dậy đất. Hẳn Bặc đại nhân của Hộ Bộ cũng biết, lúc đó triều đình cấp phát 200 vạn lượng để cứu tế, sau đó Tào Phương Chính dâng sớ thỉnh cầu sửa chữa đê đập sông Lương, Công Bộ đã phê chuẩn, thế là triều đình lại cấp thêm 300 vạn lượng, những khoản này đều được ghi chép vào sổ sách.” +

Thuận Nguyên Đế gật gật đầu, những việc này ông ta loáng thoáng có ấn tượng. +

Thượng Tri Tần hận thù nói: “Việc sửa đê đập vốn nên do quan dịch và dân phu cùng hợp sức hoàn thành, Đại Càn ta từ lâu đã có phép quân dao để điều động dân chúng. Nhưng đến hôm qua thần mới biết, dưới ám chỉ của Tào Phương Chính, quan dịch và lý dịch Kiềm Châu mượn cớ làm bậy, đẩy những lao dịch nặng nhọc vốn dĩ phải do địa chủ, sĩ thân gánh vác lên đầu tá điền và lưu dân. Còn khẩu phần lương thực triều đình cấp cho dân chúng, cũng đều bị đám quan dịch lấy đi hết.” +

(*) Quân dao là một trong ba loại lao dịch lớn thời Minh. Vì căn cứ theo số hộ và số đinh mà phân bổ, chia đều việc phục dịch, nên gọi là “quân dao”. Thời Minh sơ, lao dịch gồm chính dịch của lý giáp và tạp dịch. Tạp dịch là các việc sai phái phục vụ nha môn địa phương, do làng xã phân theo từng hộ. Về sau, vì lý trưởng tư túi gian lận, khiến gánh nặng lao dịch không còn công bằng.  +

Năm Chính Thống nguyên niên (1436), Giang Tây Án Sát Ty Thiêm Sự Hạ Thì thi hành phép quân dao tại Giang Tây, tách các loại sai dịch thường xuyên từ tạp dịch ra, hình thành một chế độ lao dịch riêng; đến thời Hoằng Trị thì áp dụng trên toàn quốc. +

Các loại sai dịch linh tinh ở nha môn tỉnh, phủ, châu, huyện cùng những khoản lao dịch quy đổi đều thuộc quân dao. Vào thời Hoằng Trị, Chính Đức, ngoài việc trực tiếp đi làm dịch, một phần quân dao có thể đổi thành nộp bạc; người đi làm gọi là lực sai, người nộp bạc gọi là ngân sai. Sau đó, cũng có trường hợp lực sai đổi thành bạc. +

Đến trung kỳ nhà Minh, do triều chính mục nát, quan lại và lý dịch cấu kết làm gian, chế độ quân dao dần bị phá hoại. Năm Vạn Lịch thứ 9 (1581), thi hành nhất điều tiên pháp, quân dao được gộp vào thuế ruộng để thu chung. +

“Việc này dẫn đến không ít tá điền bỏ lỡ vụ mùa, nghèo đói đến chết, trong nhà chỉ còn lại người già phụ nữ yếu ớt. Những nữ tử này không có lương thực lót dạ, cùng đường bí lối, bèn tập hợp lại, dùng nhan sắc dụ dỗ cướp bóc thương nhân và quan viên đi đường. Tào Phương Chính lại phái binh lính trấn áp, đặt tên cho họ là tặc Yên Chi.” +

“Khốn kiếp!” Thuận Nguyên Đế lướt nhìn qua thư mật, long nhan chợt thay đổi, vung tay ném tờ giấy lên nền gạch, “Tên nhãi ranh đáng chết!” +

Quần thần hoảng hốt quỳ rạp xuống đất, lộn xộn hô lên: “Thần có tội.” +

Thượng Tri Tần ngẩng cao đầu ưỡn ngực, trừng mắt nhìn về phía phe thái tử, đầy hàm ý nói: “Lại không biết số bạc Tào Phương Chính tham ô này, cuối cùng đều chui vào túi của ai!” +

Mục đích của đảng Hiền vương nào chỉ đơn giản là một mình Tào Phương Chính, bọn họ hy vọng mượn Tào Phương Chính làm lỗ hổng, nhổ cỏ tận gốc vây cánh Tào thị, bẻ gãy lông cánh của thái tử. +

Sắc mặt thái tử tức khắc trắng bệch, bắp chân cũng có hơi nhũn ra, hắn ta vội chuyển ánh mắt lén nhìn Cung Tri Viễn. +

Cung Tri Viễn trầm ngâm giây lát rồi lên tiếng: “Hoàng thượng, cũng không thể hoàn toàn tin tưởng lời của quan thuỷ lợi kia. Chuyện này xảy ra vào 6 năm trước, nếu quả thật tệ nạn tích tụ đến mức này, cớ sao quan thuỷ lợi quan kia không bẩm báo triều đình ngay? Thần thấy đối phương là có thù riêng với Tào Phương Chính, bỏ đá xuống giếng mà thôi. Thần cho rằng, hành động này của đối phương không phải là vì triều đình, ý đồ đáng chết. Hẳn hoàng thượng còn nhớ, Tào Phương Chính còn từng vì có công trị lũ lụt mà được triều đình khen ngợi.” +

Mấu chốt là lão ta muốn nói câu cuối cùng này. +

Năm xưa Thuận Nguyên Đế đích thân khen Tào Phương Chính, khen “trung cần không lười biếng, công tích rõ rệt”, nếu lúc này cho rằng Tào Phương Chính có tội, vậy thì chứng minh hoàng đế đã từng làm sai. +

Nếu tra xét kỹ án lớn tham ô, tất nhiên phải ghi vào sử sách, Thuận Nguyên Đế cũng sẽ phải gánh tiếng xấu chẳng phân rõ được trung gian. +

Quả nhiên, Thuận Nguyên Đế nghe xong câu này thì bình tĩnh lại, thật lâu sau vẫn không nói lời nào. +

Ôn Trác đã dự liệu được phản ứng của Thuận Nguyên Đế từ trước. Đây không phải là mặt u tối trong bản tính của hoàng đế, mà là mặt u ám mà ai ai cũng có. +

Bắt người phàm thừa nhận sai lầm còn là chuyện khó, huống chi là thiên tử, từ xưa đến nay, kẻ có thể lập chiếu tự trách tội mình có mấy ai. +

Chẳng qua chuyện của Tào Phương Chính có thể đè xuống được, nhưng sấm sét ngập trời mà Ôn Trác chuẩn bị cho đối phương lại đang trên đường tới rồi. +

Thuận Nguyên Đế cuói cùng cũng mở miệng: “Tào Phương Chính, trong mắt không có quân chủ, đại nghịch bất đạo, phạt trượng tại con đường trước ngự điện, đánh chết ngay tức khắc!” +

Thượng Tri Tần: “Hoàng thượng!” +

Chuỗi ngọc trên mũ miện khẽ đung đưa, vị quân vương tuổi già sức yếu nâng đôi mắt sụp mí lên, cuối cùng lại để lộ ra sự lạnh lùng thờ ơ của kẻ làm bề trên lâu năm, khiến người ta phải ớn lạnh sống lưng. +

Tạ Lang Ương ở trong hàng ngũ triều thần, tâm trí từ đầu đến cuối luôn dán chặt lên người Ôn Trác. Gã chờ đợi cảnh hai người giống như trước kia, tìm khe hở trao nhau một ánh mắt, dẫu là oán hận cũng được. +

Thế nhưng Ôn Trác ngay cả một lần cũng chẳng thèm nhìn về phía gã, trước sau vẫn chỉ nhìn về nơi náo nhiệt. +

Lòng bàn tay Tạ Lang Ương vô thức cuộn lại. Tầm nửa tuần trà, Ôn Trác như nhận ra điều gì đó, bỗng thu hồi tầm mắt, thế nhưng lại chẳng hề dừng lại trên người gã lấy một lát, hệt như vừa lướt qua một hạt bụi không chút quan trọng nào. +

Trong ngực Tạ Lang Ương như bị nhét một mớ bông gòn thấm đẫm nước, gã lặp đi lặp lại trong đầu sự từ chối kiên quyết của Ôn Trác tại điện Thanh Lương, trong khoang miệng bỗng dâng lên từng đợt đắng chát. +

Từ đầu đến cuối, gã làm gì có được nửa phần lựa chọn chứ? +

Hoàng quyền như núi, không ngờ Ôn Trác rời đi rồi, hiện giờ gã cũng biến thành quân cờ bị đè dưới ngọn núi ấy. +

Nhưng gã há miệng thở dốc, lại chẳng có cách nào an ủi bản thân mình, bởi vì uất ức mà Ôn Trác phải chịu đựng chỉ có lớn gấp trăm lần gã mà thôi, thế là mọi thứ chỉ có thể hóa thành một tiếng thở dài. +

Tư Lễ Giám cất cao giọng hô bãi triều, bá quan văn võ ríu rít cáo lui. Lần này thái tử đau xót mất đi cữu cữu, nhưng may thay tổn thất có giới hạn. +

Đảng thái tử vây quanh Cung Tri Viễn ở chính giữa, khen ngợi lão ta gặp nguy không loạn, không hổ là thủ phụ. +

Cung Tri Viễn còn không quên tranh thủ thời gian gọi đứa con rể Tạ Lang Ương này một tiếng, Tạ Lang Ương vội khom người hành lễ: “Ân sư.” +

Đợi Cung Tri Viễn được đoàn người xúm xít vây quanh rời đi, Tạ Lang Ương mới gấp gáp đi tìm Ôn Trác, nhưng nào còn thấy được bóng dáng y. +

Gã vội vàng lao ra ngoài đuổi theo, lúc này mới tìm được người ở con đường trước ngự điện. +

Ôn Trác đứng ở một bên đường cung, hai tay giao nhau giấu  trong áo quan, đang xem cảnh hành hình. +

Chuyện đánh trượng chết vài ba mạng người trong hoàng cung thực sự quá đỗi bình thường, lớn thì có quan viên xúc phạm thánh uy, nhỏ thì có nô tỳ phạm phải sai lầm, cho nên người nán lại xem hành hình chẳng có bao nhiêu, nhưng Ôn Trác lại nhìn rất nghiêm túc. +

Hai tay Tào Phương Chính bị đè chặt, đình trượng rướm máu loang lổ vung lên thật cao rồi nặng nề giáng xuống. +

Tôn nghiêm và ngạo cốt của bất kỳ ai, dưới cơn đau đớn đánh nát linh hồn thế này đều trở nên thật nhỏ nhoi không đáng nhắc tới. Tào Phương Chính đã kêu thảm thiết đến mức không còn ra tiếng người, toàn thân co giật dữ dội hệt cá mắc cạn, máu tươi men theo lớp áo đơn chảy tí tách, rỏ thẳng xuống nền gạch xanh buốt giá ngày đầu xuân, lan dần dọc theo những kẽ gạch. Nơi mũi miệng của những kẻ bàng quan đều ngập tràn mùi máu tanh thê thảm này. +

Lời nói dồn ứ cõi lòng của Tạ Lang Ương, lúc nhìn thấy cảnh trước mắt đã bị đánh cho vỡ vụn, nửa chữ cũng không tài nào thốt ra nổi. +

Bởi vì gã mà Ôn Trác cũng từng phải chịu thứ hình phạt tàn khốc như thế này. Cái đó thậm chí không thể gọi là nhục nhã, mà là sự bẻ gãy. +

Âm thanh của Tào Phương Chính đã hoàn toàn im bặt. Ôn Trác rút tay từ trong tay áo ra, đầu ngón tay xoay chuyển, quăng một quân cờ màu đen xuống đất. +

Quân cờ nảy lên “lạch cạch” hai tiếng, nằm trong vũng máu. +

Vẫn là y cất lời trước, trong ý cười trộn lẫn vụn băng: ““Vãn Sơn phú” của ta, khi nào thì mới trả lại đây?” +

“Ta….” Tạ Lang Ương không ngờ rằng âm thanh thốt ra khỏi miệng mình lại run rẩy đến vậy. +

Ôn Trác trào phúng: “Tạ thị lang sợ rồi ư?” +

Tạ Lang Ương muốn nói, gã không phải là sợ mà là thương xót cho người từng phải nếm trải nỗi đau thấu xương này. +

Tiếp đó nghe thấy Ôn Trác thong thả: “Chẳng cần phải gấp, ngươi và Thẩm Sân rồi cũng sẽ có một ngày như vậy thôi.” +

Nói xong, y dọc theo đường dài ngự điện, bước thẳng về phía cửa cung. +

Tạ Lang Ương lẩm bẩm tự nói một mình: “…Đệ thực sự hận ta đến mức này sao?” +

Trời trong nắng ấm, gió nhẹ mây bay, Ôn Trác lười liếc mắt nhìn Tạ Lang Ương thêm lần nữa. +

Lên xe ngựa, Ôn Trác đi thẳng đến Đông Lâu. +

Trong kinh thành tổng cộng có bốn kỳ phường lớn, Đông Lâu ở phố Quan Kỳ, Tây Lâu ở phố Minh Thời, Nam Lâu ở phố Triều Thiên, Bắc Lâu ở phố Linh Xuân. +

Mỗi một kỳ phường đều có hơn 700 gian phòng lớn nhỏ, có thể chứa được tới mấy ngàn người đánh cờ giải trí. +

Mỗi khi gặp phải dịp trọng đại của giới cờ vây, bốn kỳ phường lớn này đều sẽ treo lơ lửng một mặt bàn cờ ở ngay trung tâm lâu, chia sẻ các ván cờ quan trọng để khách khứa trong toàn bộ kỳ phường cùng thưởng thức đánh giá. +

Ngày thường, khách khứa ra vào kỳ phường cũng nối liền không dứt, phòng cần phải được đặt trước từ sớm, cũng chỉ có các trọng thần triều đình mới có được ưu đãi đặc biệt. Mấy chục gian phòng chữ Thiên trên tầng năm là dành riêng để chuẩn bị cho họ. +

Ôn Trác sải bước tiến vào trong, đọc nửa câu đầu của bài thơ rồi được tiểu nhị dẫn lối đi qua đường hầm bí mật vào thẳng phòng Giáp. +

Lần này Thẩm Trưng đến sớm hơn, dẫu sao thì hắn cũng chẳng cần phải lên triều. +

Vừa vào cửa, Ôn Trác đã nhìn thấy Thẩm Trưng dựa nghiêng người cạnh bàn cờ, trong tay đang vân vê một hòn đá xám hình vuông. Hắn nhịp nhàng nâng hòn đá lên rồi hạ xuống, sau đó lại đổi sang một tay khác đan chéo lặp lại động tác. +

Ôn Trác thầm nghĩ trong lòng, đây là làm việc nặng ở Nam Bình đến sinh nghiện rồi sao, trên tay không ôm thêm chút vật nặng thì không thoải mái được ư? +

Thẩm Trưng thoáng thấy Ôn Trác thì bất đắc dĩ bật cười: “Ta xin đấy, sao ngươi không để câu quen thuộc nhất trong thơ của Triệu Sư Tú là “Gõ cờ vô ý làm rơi hoa đèn” mà lại để câu “Ngàn năm bát ngát mộng sử xanh” vậy? Nếu không phải thuở nhỏ học được nhiều thứ tạp nham, suýt nữa là ta không vào được rồi.” +

(*) Câu gõ cờ trong bài Ước khách; còn câu ngàn năm trong “Cô Tô đài tác”, đây là bài thơ thất ngôn luật do Triệu Sư Tú sáng tác vào thời Tống, lấy Cô Tô đài – công trình do Phù Sai nước Ngô thời Xuân Thu xây dựng – làm bối cảnh lịch sử. +

Ôn Trác ngạc nhiên nhìn hắn: “Có gì không ổn sao, bài thơ được người đời ca ngợi nhất của Triệu Sư Tú chính là “Cô Tô đài tác”.” +

Thẩm Trưng nghẹn lời cứng họng. +

Sự chênh lệch thẩm mỹ của thời đại hoá ra lại lớn đến nhường này. +

Ôn Trác kéo một cái bồ đoàn, uốn gối ngồi xuống, nâng tay vuốt ve tà áo choàng đang trải dài trên mặt đất cho chỉnh tề. Lúc cử động, cổ áo hơi hé mở, để lộ ra một mảng da thịt nhỏ bên sườn cổ, đập vào mắt lại còn bóng mịn hơn cả noãn ngọc. Ánh sáng xuyên thấu qua khung cửa sổ chiếu thẳng vào trong, hệt như lướt dọc theo làn da nhẵn nhụi trơn mướt ấy, nhẹ nhàng trượt vào, phong tình vô biên. +

Thẩm Trưng chăm chú nhìn thêm một lát. +

Hắn không thể nào tưởng tượng ra Tống Ngọc, Phan An đẹp đến mức nào, nhưng nếu đổi lại là Ôn Trác đến hiện đại, e rằng cũng không dám ra ngoài đường, nếu không nhất định sẽ làm cho cả con đường kẹt xe tê liệt mất thôi. +

Chẳng biết nếu những học giả và mấy người đam mê lịch sử đời sau vẫn hay buông lời đay nghiến chửi rủa Ôn Trác nhìn thấy được khuôn mặt này, liệu có thể rộng lượng xót thương thêm chút ít được không. +

“Nơi ta từng sống trước kia có một cái nơi tên là Tam Lý Đồn, ta dám bảo đảm, lão sư đứng ở đó chưa tới một phút đã bị người ta bắt cóc đi mất.” +

Ôn Trác lấy quân cờ ra, lần lượt đặt tại các vị trí tinh vị, tiểu mục, tam tam thượng trên bàn cờ, không nóng không lạnh cất lời: “Nghèo túng sinh gian ác, e rằng cái nơi mà người nói là vùng đất hoang vu hẻo lánh của Nam Bình nên dân phong mới có thể dũng mãnh hung hãn như vậy.” +

(*) Tinh vị: điểm “sao” trên bàn cờ (thường là vị trí 4–4), là điểm cơ bản để khai cuộc, cân bằng công – thủ +

Tiểu mục: vị trí 3–4, thiên về chiếm góc sớm, dễ phát triển thế lực +

Tam tam thượng: đi vào điểm 3–3 trong góc (xâm nhập góc), thường dùng để giành đất thực địa nhanh, nhưng phạm vi bên ngoài có thể bị đối phương chiếm +

Thẩm Trưng lại bị chọc cười: “Không phải đâu, Tam Lý Đồn có nghèo hay không là chủ quan, nhưng muốn bắt cóc ngươi lại là khách quan đấy.” +

(*) Tam Lý Đồn là khu phức hợp mua sắm – ẩm thực – giải trí cao cấp nằm trong quận Triều Dương, Bắc Kinh. Đây là nơi tập trung giới trẻ, dân văn phòng, fashionista sành điệu của thủ đô. Với kiến trúc hiện đại, không gian mở và ngập tràn ánh sáng, đây còn được ví như “Nam Kinh Đông Lộ của Bắc Kinh”. +

Ôn Trác nâng mi liếc hắn. +

Thẩm Trưng biết điều cầm hòn đá che kín miệng lại, tỏ ý bản thân sẽ không nói quàng nói xiên nữa. +

Ôn Trác nhắc nhở: “Để hòn đá của người sang một bên đi, trông rợn cả người.” +

Thẩm Trưng: “Đừng vậy chứ, vất vả lắm ta mới tìm được đấy, hai đầu to, ở giữa nhỏ, cầm cực kỳ vừa tay.” +

“Cầm lấy nó làm cái gì?” +

“Rèn luyện sức mạnh, kích hoạt cơ nhị đầu, từ nay về sau không làm chó ốm nữa.” +

Tuy những lời Thẩm Trưng nói ra thường hay xen lẫn chút phong vị của Nam Bình khiến Ôn Trác nghe không hiểu, thế nhưng rèn luyện sức mạnh thì y vẫn hiểu được. +

Ngẫm lại thì Thẩm Trưng vẫn chảy trong mình dòng máu của Vĩnh Ninh hầu, dù 8 tuổi đã rời kinh, nhưng bên trong tận xương tủy vẫn vẹn nguyên linh hồn của một võ tướng. +

Ôn Trác có đôi chút vui mừng, thế là giọng nói cũng mềm đi vài phần: “Người hiểu được bao nhiêu về hội cờ Xuân Đài?” +

Thẩm Trưng: “Sự kiện quan trọng của giới cờ vây, tổ chức mỗi năm một lần, được phong là quốc thủ sẽ nghịch thiên sửa mệnh, đại phú đại quý. Nhưng mấy chục năm qua, quốc thủ trên cơ bản đều sinh ra trong các gia tộc thế gia, bởi vì bọn họ đã lũng đoạn hết tất cả những chiêu thức cờ vây tinh tuyệt lấn át người khác.” +

Ôn Trác: “Không tệ, ta cũng là sau khi nhập sĩ mới may mắn được tiếp xúc với mấy chiêu thức cao thâm của các môn các phái. Người nhìn cho thật cẩn thận ván cờ ta đang đánh đây.” +

Thẩm Trưng nhạy bén ngắt lời y: “Khoan đã, cách thời gian hội cờ Xuân Đài diễn ra còn có 3 ngày, ngươi sẽ không định dạy ta thành trình độ quốc thủ rồi ném ta đi dự thi đấy chứ? Rút lúa non thúc ép lớn nhanh cũng đâu đến mức khoa trương nhường này chứ.” +

Ôn Trác nhíu mày, vô cùng khó hiểu nhìn hắn: “Tuy rằng người đã bái ta làm thầy, nhưng mà ta cũng chưa từng ôm ấp một sự kỳ vọng lớn lao đến thế với thiên phú của người.” +

Thẩm Trưng: “……” Người anh em à, tốt xấu gì tui cũng từng thi đứng hạng nhất toàn tỉnh đấy. +

Ôn Trác gõ nhẹ lên mặt bàn cờ, nơi khóe mắt cất giấu vô vàn những toan tính khôn khéo: “Ta chỉ cần người trước khi bước vào ván cuối, nhớ thật kỹ ba ván cờ ta đã dạy, không được bỏ sót dù chỉ một quân cờ.” +

“Ba ván cờ?” +

Thẩm Trưng còn đang đắm chìm trong sự ngạc nhiên, thì bỗng nghe thấy một tiếng kim la “keng keng” đột ngột vang lên, chấn động đến mức cành liễu rủ bên đường run rẩy xào xạc. +

Trên phố Quan Kỳ rẽ ra một lối đi, có một người đang bận một chiếc ngắn khắc ti màu thạch thanh, bên hông đeo một chiếc kim la, vừa đi vừa lớn tiếng hô: “Kỳ thủ Nam Bình vào kinh, tới dự hội cờ Xuân Đài của Đại Càn! Chuyến này nhất định trảm hạ 3 hạng đầu, dạy cho các kỳ sĩ Đại Càn biết thế nào là núi cao còn có núi cao hơn, người giỏi còn có người giỏi hơn!” +

(*) Khắc ti (kesi) là một trong những kỹ nghệ dệt lụa truyền thống của Trung Hoa. Kỹ thuật này dùng phép “thông kinh đoạn vĩ”: lấy tơ sống làm sợi dọc, tơ đã nhuộm màu làm sợi ngang để dệt thành vải trơn. Trên bề mặt vải chỉ hiện hoa văn sợi ngang màu và nền đơn sắc; hoa văn hai mặt giống nhau. sợi ngang không chạy xuyên suốt tấm vải, nên giữa hoa văn và nền, giữa các màu sắc sẽ có khe hở nhỏ hoặc vết ngắt, nhìn xuyên qua có cảm giác như chạm khắc, vì thế mới có tên “khắc ti”. +

Khắc ti được chia thành khắc ti Định Châu và khắc ti Tô Châu; trong đó khắc ti Tô Châu lại gồm hai loại: đồ thưởng ngoạn nghệ thuật và đồ dùng thường ngày. +

kh-c-ti +

Một lời ngông cuồng này, đương nhiên đã thu hút sự bất mãn của vô số kỳ thủ ở Đông Lâu. Có mấy người không nhịn được cơn giận dâng lên đỉnh đầu, đang tính lao lên phía trước phân bua cho ra nhẽ. Nào ngờ đâu tên sai vặt kia lại nhấc một chuỗi pháo dây đỏ chói lên, quẹt mồi lửa châm đốt, một tràng lốp bốp rôm rốp tức thì nổ vang, nhấn chìm tiếng mắng chửi tức giận của người Đại Càn vào trong sự vui mừng hân hoan. +

Ôn Trác nghe được âm thanh đốt pháo náo nhiệt hệt như đêm giao thừa ấy, ngay trước mắt thoáng vụt qua giá hành hình nhuốm đầy máu tươi tại con đường trước ngự điện. Và rồi, cơn đau thấu xương dường như cũng nương theo tiếng nổ này mà cuộn trào dâng lên, lít nhít bủa vây quấn chặt lấy y. +

Sắc máu trên gương mặt y nháy mắt rút sạch, quân cờ “lạch cạch” rơi trên mặt bàn cờ, lăn lóc qua những đường nét ngang dọc xen kẽ hai màu trắng đen. +

“Ngươi làm sao vậy?” Thẩm Trưng nhanh tay lẹ mắt, đưa tay đỡ lấy bả vai y. Dưới lòng bàn tay, cơ thể Ôn Trác lại đang hơi run rẩy. +

Bình luận
Đóng

AUDIO

Giọng đọc Giọng Nam (miền nam)
Giọng Nam (miền nam)
Giọng Nữ (miền bắc)
Tốc độ đọc Tiêu chuẩn
Tùy chỉnh
1x
0.25
0.5
0.75
Chuẩn
1.25
1.5

Để lại một bình luận

* Chú ý: Những bình luận vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng sẽ bị xóa kèm quà tặng.

Comments (1)